Tin tức và sự kiện

Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 VEC Consultant

Ngày 20/4/2018, tại văn phòng Công ty cổ phần Tư vấn đường cao tốc Việt Nam đã diễn ra Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2018 với sự có mặt […]

Bổ nhiệm Trưởng phòng Quản lý kinh doanh Công ty cổ phần Tư vấn đường cao tốc Việt Nam

Sáng ngày 29/01/2017, Công ty cổ phần Tư vấn đường cao tốc Việt Nam đã tổ chức Lễ trao quyết định bổ nhiệm Trưởng phòng Quản lý kinh doanh đối với ông […]

HỘI NGHỊ NGƯỜI LAO ĐỘNG NĂM 2018 CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐƯỜNG CAO TỐC VIỆT NAM

Thực hiện Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở […]

Dự báo nhu cầu vận tải đường bộ đến năm 2020

Từ chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch đã dự báo nhu cầu vận tải cho 22 hành lang giao thông chính yếu, trong mỗi hành lang này đã phân bộ lưu lượng cho từng phương thức vận tải…

Từ chiến lược phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, Quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020, Quy hoạch đã dự báo nhu cầu vận tải cho 22 hành lang giao thông chính yếu, trong mỗi hành lang này đã phân bộ lưu lượng cho từng phương thức vận tải: Đường bộ, Đường sắt, Đường sông, Đường biển và Hàng không; kết hợp với quy hoạch phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các khu chế xuất, các khu công nghiệp cho kết quả dự báo được lưu lượng xe của trục đường bộ trên các hướng chính:

TT Các trục đ ường bộ chính Năm 2010 Năm 2020
1 Lạng Sơn – Bắc Giang 13.272 28.236
2 Bắc Giang – Hà Nội 28.249 49.861
3 Hà Nội – Giẽ 50.825 81.658
4 Giẽ – Ninh Bình 39.041 115.315
5 Ninh Bình – Thanh Hóa 25.435 44.370
6 Thanh Hóa – Vinh  22.701 35.317
7 Vinh – Quảng Trị 10.549 18.773
8 Quảng Trị – Huế 10.238 16.839
9 Huế – Đà Nẵng 20.591 57.283
10 Đà Nẵng – Quảng Ngãi 17.694  48.673
11 Quảng Ngãi – Nha Trang 11.485 20.500
12 Nha Trang – Phan Thiết 13.062  23.105
13 Dầu Giây – Phan Thiết 13.019 23.280
14 Long Thành – Dầu Giây 22.513 55.627
15 TP Hồ Chí Minh – Long Thành 55.013 146.275
16 TP Hồ Chí Minh – Trung L ương  81.835 179.155
17 Trung L ơng – Mỹ Thuận 26.889 57.640
18 Mỹ Thuận – Cần Thơ 18.958 32.304
19 Cần Thơ – Bặc Liêu 16.426 30.772
20 Hà Nội – Việt Trì 28.663 57.792
21 Việt Trì – Yên Bái  20.759  44.818
22 Yên Bái – Lào Cai  13.272  28.236
23 Hà Nội – Thái Nguyên  19.843 55.987
24 Hà Nội – Hải Phòng 50.476 132.758
25 Láng – Hòa Lạc  47.901 154.868
26 Hòa Lạc – Trung Hà 10.458 17.302
27 Nội Bài – Hạ Long 23.898 61.862
28 Hạ Long – Móng Cái 8.000 20.000
29 Ninh Bình – Hải Phòng 9.631 17.737
30 Hải Phòng – Quảng Ninh 9.795 17.233
31 Long Thành – Vũng Tàu 83.525 174.787
32 TP Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một 46.754 79.234
33 Thủ Dầu Một – Chơn Thành 12.468 19.021
34
  1. Hồ Chí Minh – Mộc Bài
17.861 36.747
35 Ngọc Hồ – Chơn Thành 6.768 18.216
36 Hòa Lạc – Tân Kỳ 5.454 11.648
37 Dầu Giây – Đà Lạt 15.050 38.800
38 Châu Đốc – Cần Thơ 14.051  25.363
39 Hà Tiên – Rạch Giá  8.495 15.401
40 Rạch Giá – Bạc Liêu 7.029 12.981
41 Trung L ương – Bến Tre 11.495 18.948
42 Bến Tre – Trà Vinh 6.596 17.109
43 Trà Vinh – Sóc Trăng 3.014 7.818
44 Đông Hà – Lao Bảo 6.057 12.853
45 Hà Nam – Khâm Đức 5.047 9.105

Hệ số quy đổi các xe về xe con quy đổi được lấy như sau: xe máy: 0.3; xe con: 1.0; xe tải có hai trục và xe buýt dưới 25 chỗ: 2.0; xe tải có từ 3 trục trở lên và xe buýt lớn: 2.5; xe kéo moóc, xe buýt trên 25 chỗ: 3.0.

 

Các trục quốc lộ chính của nước ta hiện nay chủ yếu  là đường 2 làn xe và một tỷ lệ nhỏ là đường 4 làn xe. Trên mỗi làn xe , nhiều thành phần tham gia giao thông đã gây mất an toàn giao thông trong khai thác, tốc độ xe chạy không cao và năng lực thông hành thấp (đường 2 làn xe chỉ đảm bảo thông qua từ 10.000 – 15.000 xe con quy đổi (PCU/ngày, đêm; đường 4 làn xe chỉ đảm bảo 25.000 – 30.000 xe con quy đổi (PCU/ngày, đêm).

Với kết quả dự báo trên, các trục quốc lộ chính sẽ bị ùn tắc giao thông, trong thời gian tới, cần phải mở rộng hoặc xây dựng thêm tuyến đường mới. Những tuyến đường mới này đều liên hệ với các trọng điểm kinh tế, các đô thị lớn, các khu công nghiệp, các đầu mối giao thông và các cửa khẩu… do đó đòi hòi phải nghiên cứu xây dựng các tuyến đường này thành đường cao tốc.

(Theo nội dung tờ trình xin phê duyệt Quy hoạch mạng đường bộ cao tốc Việt Nam Số 5104/TTr-BGTVT ngày 19 tháng 08 năm 2005 của Bộ Giao thông vận tải).